Hiển thị các bài đăng có nhãn SUY NGHĨ CUỘC SỐNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SUY NGHĨ CUỘC SỐNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

ĐIỆN HẠT NHÂN - PHẢI CHĂNG LÀ GIẤC MƠ ĐẾN CHÓNG MẶT


Thảm họa kinh hoàng Chernobyl, xếp hạng 7 theo thang INES, xảy ra tại Ukraina, Liên Xô cũ, ngày 26-4-1986, là sự kiện khơi mào cho nhận thức của nhân loại về sự nguy hiểm tiềm tàng của hạt nhân dân sự.
Nhà máy điện hạt nhân Chernobyl
Nhà máy điện hạt nhân Chernobyl gặp sự cố gây thảm họa vào ngày 26/4/1986

Tai nạn này là do ở những sai sót trong thiết kế nhà máy điện hạt nhân và một loạt lỗi lầm của con người, nhất là thái độ quan liêu không thể tả.

Công suất yếu, tâm lò không ổn định, nước dùng để truyền nhiệt có mặt khắp nơi, nhưng nó cũng là nguồn hấp thụ nơtron và do đó hơi nước rất là nguy hiểm và các cần điều khiển (barres de contrôle) không hoàn toàn dễ sử dụng.Chính lò phản ứng số 4 RBMK của Liên Xô, 1000 MW, kiểu lò nước sôi nhẹ, kiềm hãm bằng than và được làm giàu thấp với uranium, đã gánh chịu vụ nổ (không phải hạt nhân) và chảy tâm lò. Lò này, dạng trụ với đường kính là 12 m và cao 8 m, chứa 190 tấn uranium làm giàu 2%. Những điểm yếu của kiểu lò này là không có vỏ bọc (enceinte de confinement) hay mái vòm bảo vệ.
Chính thao tác của một vài kĩ sư điện, không biết gì về hạt nhân, đến từ Moscow, với mục tiêu là chứng tỏ khả năng khởi động lại nhà máy cùng với động năng của turbin khi có sự cố bên ngoài về điện, là nguồn gốc gây ra thảm họa. Nguyên nhân là do sự bịt kín và sự gãy đổ các cần điều khiển đối với than kiềm chế. Chế độ siêu cấp (công suất lò phản ứng tăng lên 100 lần) gây ra một loạt các vụ cháy nổ.
Vụ nổ lớn đầu tiên là nổ hơi nước làm tung lên trời 1200 tấn bê tông phủ lò phản ứng. Vụ nổ thứ hai hoặc là do hidro, hoặc do vượt quá giới hạn và phản ứng dây chuyền xảy ra. Ngoài một lượng khổng lồ các chất phóng xạ tung vào không khí (cao hơn 3000 m); người ta ước tính rằng gần 100 kg plutonium (trên tổng số 400 kg chứa trong lò) đã lan tỏa vào môi trường lúc xảy ra vụ cháy.
"Mặt khác, phần lớn, chính con người là nguyên nhân chứ không phải máy móc! Do đó phải tính đến tần suất lỗi của con người"
GS Nguyễn Khắc Nhẫn

Sự chảy tâm lò và các cấu trúc kim loại tạo nên một lớp corium nằm dưới lò phản ứng. Trong chất thải này có chứa 300 kg plutonium.
Theo một chuyên gia là giáo sư Vassili Nesterenko, sự lắng đọng của plutonium nóng chảy này có thể gây nên một vụ nổ nguyên tử nhiều chục năm sau đó ! Các chuyên gia của Viện hàn lâm Khoa học Belarus tính toán rằng một vụ nổ nguyên tử mạnh từ 50 đến 80 lần bom Hiroshima có thể xảy ra 2 tuần sau vụ nổ Chernobyl !
Những người vận động lobby cho giải pháp điện hạt nhân cho rằng xác suất xảy ra một tai nạn lớn như vậy (chảy tâm lò) là khoảng 1 phần triệu.
Người ta thường nhầm lẫn giữa xác suất và kì vọng toán học (espérance mathématique). Con số rất nhỏ này không thể tin được, bởi vì xác suất phụ thuộc vào rất nhiều giả thiết.
Mặt khác, phần lớn, chính con người là nguyên nhân chứ không phải máy móc! Do đó phải tính đến tần suất lỗi của con người. Đừng quên rằng chỉ trong vòng 50 năm qua mà đã xảy ra năm vụ cháy tâm lò : một ở Three Mile Island, một ở Chernobyl và ba ở Fukushima. Thế giới hiện có 437 lò, với tổng công suất là 370.500 MW.
Khái niệm về rủi ro rộng hơn khái niệm xác suất. Năm nay, nhân kỉ niệm 26 năm Chernobyl, người ta bắt đầu xây dựng một cái Sarcophage (cái quách) khổng lồ thứ 2, trị giá 1,5 tỷ euros, bao trùm lò Chernobyl, với mục đích cấm phóng xạ thóat ra ngoài trời. Thiết nghĩ, thực không có một công nghệ nào "quái lạ" như thế này.
Ai nghiêm trọng hơn?


Fukushima (trái) và Chernobyl
Tác giả đánh giá thảm họa Fukushima nghiêm trọng hơn nhiều lần so với Chernobyl

Khi so sánh mức độ nghiêm trọng giữa hai thảm họa Chernobyl và Fukushima, cũng như nhiều chuyên gia khác, tôi cho rằng thảm họa Fukushima nghiêm trọng hơn nhiều lần so với Chernobyl, bởi vì nó được gây ra bởi thiên nhiên và phức tạp hơn nhiều, tuy rằng có nhiều lỗi về thiết kế. Nó đã làm chảy tâm lò phản ứng số 1, 2, và 3 của nhà máy Fukushima 1 Daiichi và gây thấm bể chứa và đáy của một số lò (melt-out).
Thật ra, tập hợp những thanh nhiên liệu chứa trong hồ, tương đương với hai chục tâm lò, cũng có thể bị nóng chảy. Kịch bản này còn nguy hiểm hơn việc nóng chảy một tâm lò bởi vì nó không chỉ liên quan đến nhiều lò phản ứng mà còn nhiều hồ làm mát các thanh nhiên liệu phóng xạ.
Trong khi ở Chernobyl, phản ứng dây chuyền không kiểm soát được đã gây nên sự hoạt động quá mức của lò phản ứng và từ đó là nhiệt độ cao bất thường, dẫn đến vụ nổ hơi nước hoặc là hidro ; tại Fukushima, phản ứng dây chuyền được tắt một cách tự động khi xảy ra động đất, điều này hạn chế mức độ thải ra các sản phẩm của quá trình phân hạch. Điều may mắn là ở Chernobyl, tâm lò nóng chảy không thấm qua đáy lò trong khi ở Fukushima, tâm lò nóng chảy đã xuyên qua bể chứa và vỏ bọc để đi vào lòng đất.
"Tai họa rất nguy hiểm đối với Nhật Bản nằm ở sự ô nhiễm gây ra bởi cesium 137 đối với mặt đất, tầng dưới mặt đất, các lớp nước giếng, nói chung là cả hệ thống lưu chuyển nước ngọt"
GS Nguyễn Khắc Nhẫn

Cũng cần biết thêm rằng ở Fukushima có 877 tấn nhiên liệu trong các lò phản ứng và 3.400 tấn nhiên liệu đã qua sử dụng nằm trong 7 hồ chứa, tổng cộng là 4.277 tấn. Để so sánh, nên nhớ rằng ở Three Mile Island con số này là 30 tấn và ở Chernobyl là 190 tấn.
Ước tính lượng chất phóng xạ thoát vào không khí ở Fukushima là 770.000 terabecquerels, tức gần 5 lần ít hơn ở Chernobyl (4 triệu terabecquerels ). Nhưng con số này không tính đến chất thải đi vào đất và nước biển, và cũng không nên quên rằng việc ô nhiễm vẫn tiếp tục ở Fukushima. Lượng cesium 137 thải vào biển nhiều hơn khoảng hai lần số lượng gây ra bởi các vụ thử bom nguyên tử ở Thái Bình Dương vào những năm 1960.
Nhưng tai họa rất nguy hiểm đối với Nhật Bản nằm ở sự ô nhiễm gây ra bởi cesium 137 đối với mặt đất, tầng dưới mặt đất, các lớp nước giếng, nói chung là cả hệ thống lưu chuyển nước ngọt. Một phần nước ngọt, mà rất khó có thể biết con số chính xác, có thể không thể dùng cho sinh hoạt và nông nghiệp được trong vòng hơn 2 thế kỉ !
Trái với Tepco vốn tìm mọi cách khẳng định rằng chỉ có sóng thần là nguyên nhân của thảm họa Fukushima, Ủy ban điều tra Nhật Bán đã đưa ra giả thuyết là đường ống chính của nhà máy điện hạt nhân đã bị hư hại nghiêm trọng, ngay trước trận động đất dữ dội (9 độ Richter) xảy ra.
( Theo BBC)
Xem bài gốc tại đây: Chernobyl sau 26
Nhật Bản: người dân biểu tình chống điện hạt nhân
TTO - Thủ tướng Yoshihiko Noda ngày 22-8 không tỏ ra nhượng bộ trong cuộc họp đầu tiên với các nhà tổ chức phong trào biểu tình chống năng lượng hạt nhân, diễn ra hằng tuần trước dinh thủ tướng từ tháng 3 đến nay.
Người biểu tình chống năng lượng hạt nhân bên ngoài dinh thủ tướng Nhật Bản - Ảnh: Asahi
Trong cuộc họp với đại diện người biểu tình, Thủ tướng Noda bảo vệ quyết định của ông khi tái khởi động hai lò phản ứng tại Nhà máy điện Oi (tỉnh Fukui) hồi tháng 6, đồng thời cam kết tiếp tục tiến hành các biện pháp cải thiện tính an toàn của hai lò phản ứng này.
“Quan điểm cơ bản của chúng tôi là giảm sự phụ thuộc của Nhật Bản vào năng lượng hạt nhân về trung và dài hạn. Nhưng quyết định tái khởi động lò phản ứng dựa trên một góc nhìn toàn diện, gồm cả sự cần thiết của chúng với cuộc sống nhân dân” - Thủ tướng Noda nói.
Phát biểu này của Thủ tướng Noda bị phe biểu tình bác bỏ. Trong cuộc họp, 11 đại biểu của người biểu tình phản đối bất kỳ việc tiếp tục nối lại hoạt động của nhà máy hạt nhân nào, đồng thời kiến nghị hủy đề cử ông Shunichi Tanaka - một người ủng hộ năng lượng hạt nhân - trở thành tân lãnh đạo tại cơ quan giám sát hạt nhân Nhật Bản.
Cuộc họp kết thúc sau khoảng 30 phút mà không phe nào chịu nhượng bộ phe nào.
“Người dân sẽ tiếp tục đi biểu tình mỗi tuần. Họ giận dữ khi ông khởi động lò phản ứng trong khi thảm họa Fukushima vẫn chưa được giải quyết” - một đại diện người biểu tình tên Misao Redwolf nói tại cuộc họp.
Cựu thủ tướng Naoto Kan cũng đến tham dự cuộc họp giữa ông Noda và Liên minh chống hạt nhân diễn ra ở văn phòng thủ tướng.
Thủ tướng Noda được cho là không muốn tiếp xúc với đại diện người biểu tình nhưng ông buộc phải làm vậy khi quy mô các cuộc biểu tình vào mỗi thứ sáu hằng tuần trước dinh thủ tướng ngày càng tăng, khi số người tham gia lên đến hàng vạn người trong những tuần gần đây.
Cá gần Nhà máy Fukushima nhiễm phóng xạ cao kỷ lục
Hai mẫu thử cá được TEPCO xác định bị nhiễm xạ cao kỷ lục - Ảnh: Kyodo
Công ty Điện lực Tokyo (TEPCO) cho biết hai mẫu cá đánh bắt trong vùng biển cách Nhà máy điện hạt nhân Fukushima ở bán kính 20km bị phát hiện nhiễm phóng xạ cesium cao kỷ lục: 25.800 becquerels/kg. Mẫu thử cá này được TEPCO đánh bắt trong ngày 1-8 ở độ sâu 15m.
Nồng độ trên cao gấp 258 lần nồng độ cesium mà chính phủ quy định an toàn cho người tiêu dùng. Phát hiện này cho thấy ô nhiễm phóng xạ tại khu vực này vẫn là một vấn đề nghiêm trọng mặc dù thảm họa hạt nhân đã xảy ra hơn một năm.
Cơ quan thủy sản của tỉnh cũng đã thực hiện xét nghiệm riêng với số cá này và cho ra kết quả tương tự. Trước đó, kỷ lục nhiễm xạ ở cá được cơ quan này thực hiện là 18.700 becquerels/kg.
 (Theo Kyodo, Asahi)

Và đây là chúng ta:




Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận đã được Quốc hội thông qua tháng 11.2009. Dự án gồm hai nhà máy với công suất trên 4.000 MW với công nghệ chính là lò nước nhẹ cải tiến, thế hệ lò từ thứ ba trở lên, đã được kiểm chứng, đảm bảo tuyệt đối an toàn và hiệu quả kinh tế tại thời điểm lập dự án đầu tư. Tổng mức đầu tư của dự án khoảng 200.000 tỷ đồng (tại thời điểm lập dự án, quý 4/2008).

Để vận hành một lò phản ứng hạt nhân cần có từ 700 đến 1.000 chuyên gia theo các hướng khác nhau. Tổng nhân sự vận hành 1 lò phản ứng khoảng 2500

Theo trên thấy:

- Trong 20 năm tiếp theo sẽ xây mới 14 lò phản ứng với tổng công suất 15.000 - 16.000MW
- Lượng tiền cần có: 50.000 tỷ VNĐ x 15 = 750.000 tỷ VNĐ ( khoảng 40 tỷ USD) ( Giá lập tại thời điểm 2008, bây giờ chắc cao hơn) -> co số khổng lồ so với một nền kinh tế ọp ẹp.
- Số nhân sự vận hành cần có: 2500 x 14 = 35.000 người  -> tức cần đào tạo với tốc độ 2000 chuyên gia/ 1 năm -> chóng mặt.

Chưa kể các điều kiện khác, giả sử có đủ tiền để xây dựng thì nhân lực vận hành các lò phản ứng thật đáng e ngại, đào tạo ở đâu, ở nước ngoài hay ở nền giáo dục ưu việt này (toàn dạy lý thuyết suông) thì hình ảnh Chernobyl  và Fukushima chắc chắn phải nghĩ tới.

(N.Anh)


Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

BÀI PHÁT BIỂU CỦA GS DƯƠNG TRUNG QUỐC TẠI BUỔI THẢO LUẬN Ở HỘI TRƯỜNG - ĐẤT NƯỚC CẦN NHIỀU NGƯỜI NHƯ GIÁO SƯ

      Bài này nói thẳng về năng lực điều hành của chính phủ, một tham luận hiếm hoi kể từ ngày có Quốc hội đến giờ, tóm lại chỉ hai ý: Một là một trong những chức năng quan trọng cũng là trách nhiệm nặng nề nhất của Chính phủ phải là điều hành đất nước ở tầm vĩ mô. Vĩ mô vừa mang nội hàm về không gian (to lớn) lẫn thời gian (lâu dài). Nếu cứ như hiện nay, Chính phủ không đáp ứng được mong muốn của nhân dân ngày càng có năng lực thể hiện quyền dân chủ của mình mà hoạt động của Quốc hội có trách nhiệm phải đáp ứng.” Hai là “Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, nhưng theo tôi nguyên nhân đáng quan ngại nhất là năng lực “lắng nghe” của Chính phủ. Quốc hội có trách nhiệm trong chuyện này.
    Bài này được đăng trên báo Sài Gòn tiếp thị, nội dung như sau:



SGTT.VN - Thảo luận ở hội trường về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011; việc triển khai nội dung này trong những tháng đầu năm 2012, đại biểu Dương Trung Quốc đã đọc một bài phát biểu vượt ra ngoài khuôn khổ thông thường của tầm nhìn mỗi “nửa năm” theo các bản báo cáo tương ứng với thời gian ấy của Chính phủ. Với góc nhìn của một đại biểu thâm niên, ông phân tích trách nhiệm Chính phủ trong việc điều hành ở tầm vĩ mô, gắn trách nhiệm này với trách nhiệm giám sát của chính Quốc hội. Sài Gòn Tiếp Thị xin giới thiệu bài phát biểu này.
Qua những năm tham gia Quốc hội, tôi nghiệm thấy rằng: Một Quốc hội như thế nào thì sẽ có một Chính phủ như thế nấy.
Ta có thể đặt ra những câu hỏi: Vì sao đất nước đã hoà bình gần 40 năm mà con đường huyết mạch số một hay hệ thống đường sắt vẫn gần như thời kỳ Tây cai trị? Ảnh: Phan Quang
Phương thức hoạt động của Quốc hội chúng ta là cứ nửa năm triệu tập một kỳ họp và nghe một bản báo cáo với nội dung chủ yếu là nhìn lại sáu tháng vừa qua để hướng tới mục tiêu sáu tháng tiếp theo. Thời điểm họp vào cuối tháng 5 và cuối tháng 10 mỗi năm thật lỡ dở để có dịp nhìn lại trọn vẹn từng năm... Cứ tập trung vào bản báo cáo sáu tháng một lần thì thật khó có thể nhận dạng được bức tranh toàn cảnh của đất nước.
Với tầm nhìn mỗi “nửa năm ấy”, những bản báo cáo của Chính phủ chỉ nêu lên những việc đã làm như những thành tựu đã đạt được – đưa ra một số sai sót, yếu kém gắn với những vấn đề nổi cộm mà dư luận đang quan tâm, rồi đưa ra những giải pháp thường ngắn hạn và ít mới mẻ.
Để ngắm một bức tranh toàn cảnh cần có một độ lùi về không gian và cả thời gian. Hoàn cảnh cho tôi, đến nay đã được dự khoảng 20 phiên và đọc chừng 20 bản báo cáo của Chính phủ, để bằng cảm quan nghề nghiệp của mình, nhận ra cái mạnh và cái chưa mạnh của Chính phủ.
Cái mạnh nhất của Chính phủ là “khả năng ứng biến”, “năng lực giải quyết tình huống”. Phải chăng đây là sự kế thừa của một truyền thống hình thành trong thời chiến. Năng lực ấy đã phát huy tác dụng tích cực khi chúng ta thực hiện một mục tiêu chính nghĩa, một đường lối đúng đắn, có sự hậu thuẫn về ý chí của toàn dân, lại có tầm nhìn sáng suốt của người đứng đầu .
Cái mạnh ấy, đã giúp Chính phủ cứ sáu tháng một lần lại vượt qua được những thử thách của thực tiễn, đạt được những mục tiêu ngắn hạn và cũng vượt qua được một kỳ họp cũng là một kỳ chất vấn của Quốc hội để rồi lại dấn thân phấn đấu cho sáu tháng tiếp theo. Vì thế những thành tựu ấy khó bền vững và những khuyết điểm, yếu kém của Chính phủ luôn lặp lại gần như là một điệp khúc không mấy thay đổi qua các báo cáo.
Nói như vậy, tôi hoàn toàn không phủ nhận những nỗ lực của Chính phủ cũng như chia sẻ những khó khăn khách quan mà cuộc khủng hoảng kinh tế mang tính toàn cầu cũng như cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền rất phức tạp mà Chính phủ đang phải gánh vác. Và nói như vậy cũng không có nghĩa là xem thường năng lực ứng phó và giải pháp tình huống...
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, nhưng theo tôi nguyên nhân đáng quan ngại nhất là năng lực “lắng nghe” của Chính phủ. Quốc hội có trách nhiệm trong chuyện này.
Nhưng chỉ như thế thì không đủ
Một trong những chức năng quan trọng cũng là trách nhiệm nặng nề nhất của Chính phủ phải là điều hành đất nước ở tầm vĩ mô. Vĩ mô vừa mang nội hàm về không gian (to lớn) lẫn thời gian (lâu dài).
Ta có thể đặt ra những câu hỏi: Vì sao đất nước đã hoà bình gần 40 năm mà con đường huyết mạch số một hay hệ thống đường sắt vẫn gần như thời kỳ Tây cai trị?
Vì sao lĩnh vực công nghiệp hoá, hiện đại hoá luôn được coi là mục tiêu chiến lược và được Chính phủ đầu tư nhiều nhất, trong đó, đặt vai trò động lực hàng đầu cho các tập đoàn nhà nước lại là lĩnh vực kém thành công nhất. Để nhắc đến một thương hiệu hay một sản phẩm công nghiệp đáng để cho thế giới biết đến dường như chưa có! Còn nhắc đến con số những thất thoát ngân sách khổng lồ gắn với những đổ vỡ của một vài tập đoàn như Vinashin, Vinalines thì có ai không xót ruột...!
Trong khi đó, như chúng ta vừa thảo luận về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thì chính những người nông dân, ngư dân vốn ít được sự quan tâm đầu tư của Chính phủ, thậm chí phải chịu đựng nhiều rủi ro không chỉ của thiên tai mà của cả những sai sót trong điều hành của Chính phủ, lại làm nên những thành tựu, những thương hiệu hơn hẳn công nghiệp. Nó cho thấy trên nhiều lĩnh vực quan trọng, thực tiễn đã vượt qua sự chủ động trong tầm nhìn và tầm tay quản lý của Chính phủ?
Một trong những chức năng quan trọng cũng là trách nhiệm nặng nề nhất của Chính phủ phải là điều hành đất nước ở tầm vĩ mô. Vĩ mô vừa mang nội hàm về không gian (to lớn) lẫn thời gian (lâu dài). Nếu cứ như hiện nay, Chính phủ không đáp ứng được mong muốn của nhân dân ngày càng có năng lực thể hiện quyền dân chủ của mình mà hoạt động của Quốc hội có trách nhiệm phải đáp ứng.
Một ví dụ nữa, đội ngũ cán bộ công chức được tuyển chọn, đào tạo, trong đó dường như ai cũng được bồi dưỡng những khoá học về “quốc phòng toàn dân”, mà vẫn để hiện tượng sử dụng lao động người nước ngoài, cho thuê đất rừng hay khai thác khoáng sản và gần đây nhất là nuôi hải sản ở ngay những vị trí trọng yếu của an ninh quốc gia vượt ra ngoài tầm kiểm soát của bộ máy nhà nước?
Nhìn bản đồ quốc gia, chúng ta sẽ thấy không ít sự bất hợp lý và lãng phí, hệ quả của mối quan hệ giữa Chính phủ Trung ương và chính quyền các địa phương bị chi phối bởi tầm nhìn cục bộ cũng như sự thoả hiệp của mối quan hệ xin – cho. Cần nhấn mạnh rằng mối quan hệ xin – cho đang ngày càng trầm trọng và gây tác hại lớn nhất cho việc điều hành đất nước, phá hoại những giá trị xã hội, đã tạo nên hiện tượng đáng quan ngại không chỉ là các vụ tham nhũng và thất thoát lớn đã được phát hiện hay không thể phát hiện, mà còn là hiện tượng đã được thừa nhận là “tham nhũng vặt”.
Trong khi đó, đối với nhân dân, chính bộ máy công quyền ấy lại phải chăng quá khắt khe cảnh giác để rồi hành xử có phần vụng về, thô bạo đối với một bộ phận nhân dân, làm phương hại đến hình ảnh của một Nhà nước của dân, do dân và vì dân mà chúng ta đang phấn đấu. Chỉ số lòng tin của dân đối với Chính phủ chưa khi nào được quan tâm tính đếm, nhưng chắc chắn không như chúng ta mong muốn.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế ấy, nhưng theo tôi nguyên nhân đáng quan ngại nhất là năng lực “lắng nghe” của Chính phủ. Nhìn lại một chặng thời gian dài hơn mỗi kỳ họp, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều vấn đề đã được cảnh báo đến từ phát biểu của nhiều nhà khoa học hay hoạt động xã hội, trong đó có những đại biểu Quốc hội, từ rất nhiều cuộc hội thảo, đề tài nghiên cứu... mà Chính phủ chậm tiếp thu để rồi thực tiễn chứng minh những lời cảnh báo ấy đã trở thành hiện thực. Năng lực lắng nghe bị hạn chế phải chăng do Chính phủ chưa tin vào dân, vào những người không nằm trong bộ máy tư vấn gần gũi của Chính phủ, hay còn vì “lợi ích nhóm”?
Trong những hạn chế của Chính phủ ấy có trách nhiệm của Quốc hội. Vì sao khi thảo luận về “luật Phòng chống tham nhũng”, nhiều vị đại biểu Quốc hội và dư luận xã hội đã can rằng không nên giao trách nhiệm đứng đầu cơ quan này cho cơ quan hành pháp, thế mà chính Quốc hội chúng ta lại thông qua luật để tới nay phải sửa lại? Vì sao từ nhiệm kỳ trước tại Quốc hội, tôi đã thấy có vị đại biểu nêu lên sự cần thiết phải xây dựng luật nhằm quản lý và phát huy vốn của Nhà nước, mà Quốc hội vẫn chưa tiếp thu? Vì sao khi xảy ra những vụ việc như ở Tiên Lãng (Hải Phòng), Văn Giang (Hưng Yên)... chẳng thấy Quốc hội sớm vào cuộc? Tại sao xảy ra hiện tượng người Trung Quốc vào nuôi cá ngay kề địa bàn quân sự ở Cam Ranh, người phát hiện lại chỉ là báo chí? Tất cả các bản báo cáo ngân sách Chính phủ trình, Quốc hội đều... cho qua, thì sự thất thoát ngân sách lớn như thế có trách nhiệm của Quốc hội không? Thưa Quốc hội, nói đến Quốc hội, tôi cũng ý thức rằng trong đó có cả chính mình.
Từ những ý kiến trên, tôi kiến nghị: các bản báo cáo mỗi kỳ họp Quốc hội của Chính phủ, ngoài phần báo cáo như cách viết hiện nay, Quốc hội cần hướng việc giám sát vào những vấn đề nổi bật gắn với tầm điều hành vĩ mô của Chính phủ, để thấy những tiến bộ của Chính phủ sau mỗi kỳ họp thông qua những đánh giá việc thực hiện những mục tiêu lớn và dài hạn.
Xin nhắc lại lời của người xưa đúc kết về thuật trị nước. Đó là câu đối “nhắc nhở” của một viên quan thời Hậu Lê (Hoàng Ngũ Phúc) vào một thời kỳ lịch sử rối ren: “Nước lấy dân làm gốc, lúc bình yên, nước hãy để dân yên – Dân lấy nước làm lòng, khi hữu sự, dân sẽ ra gánh vác”.
Thử đặt ra một câu hỏi, vào thời điểm này, “khi hữu sự”, liệu dân có ra gánh vác như những thời kỳ đầy thử thách trong quá khứ lịch sử hào hùng hay không? Đặt lòng câu hỏi ấy, Chính phủ sẽ thấy nhiều việc cần làm.


(N.Anh)


Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

NGÀY XƯA VÀ BÂY GIỜ


·         Ngày xưa, tưởng khóc là buồn, bây giờ phát hiện buồn nhất là không thể khóc được.
·         Ngày xưa, tưởng cười là vui, bây giờ nghĩ lại, có những giọt nước mắt còn vui hơn cười.
·         Ngày xưa, tưởng đông bạn là hay, bây giờ mới biết bạn thì ít mà bè thì nhiều
·         Ngày xưa, tưởng cô đơn ở đâu xa lắm, chỉ đến ở những chỗ không người, đến giờ mới hiểu, lúc bên nhau, sự ấm áp mới thật mong manh, mà nỗi cô đơn sao lại gần gũi thế.
·         Ngày xưa, tưởng yêu là tất cả, là mọi thứ, lớn rồi mới biết sau yêu còn có chia tay.
·         Ngày xưa, tưởng đóng đinh thì đóng đinh, không thích thì là có thể nhổ, bây giờ cảm nhận được đinh có thể nhổ nhưng vết sâu vẫn còn.
·         Ngày xưa, tưởng mình có thể thay đổi cá thế giới, giờ thấy được ngay cả 1 người còn chẳng có khả năng thay đổi. Có chăng, vẫn chỉ là tự thay đổi mình.
·         Ngày xưa, tưởng yêu một người thì dễ, quên một người mới khó.Giờ thấy mình quên đi nhiều người cũng dễ dàng, nhưng để yêu, mới khó làm sao.
·         Ngày xưa, vẫn nghĩ rằng tình yêu là mãi mãi, tình yêu là thứ quan trọng nhất trong cuộc đời.Giờ thì biết yêu đến đó, rồi đi đó, như mưa bóng mây, hay dù có như chớp bể mưa nguồn thì cũng vậy, có đó rồi mất đó. Và thật sự cũng chẳng biết thứ gì là quan trọng nhất
·         Ngày xưa tưởng khi đi xa nhà là thích nhất, giờ xa nhà mới thấy buồn và nhớ thế nào.
·         Ngày xưa tưởng mọi người sống vì mình, giờ lớn rùi mới thấy mình cần sống vì mọi người.
·         Ngày xưa chơi trò cô dâu chú rể thấy đó là mơ ước, giờ mới thấy đó là thử thách.
·         Ngày xưa tưởng cuộc sống là hôm nay, giờ lớn mới thấy sẽ còn có ngày mai và cả quá khứ
·         Ngày xưa tưởng con trai, con gái giống nhau, giờ mới thấy chẳng ai giống ai
·         Ngày xưa tưởng cho đi là hết,là tiếc nuối, giờ mới thấy cho đi là hạnh phúc, là còn mãi.
·         Ngày xưa tưởng để trở thành hoàng tử cần cao lớn, đẹp trai và khoác trên mình bộ áo choàng thật đẹp, giờ thấy ko có những điều đó vẫn trở thành "hoàng tử" của một ai đó
·         Ngày xưa , nghỉ học là chuyện lạ. Lớn lên mới biết, chuyện lạ là đi học...
·         Ngày xưa, tưởng đến trường là phải học. Lớn lên mới biết, đến trường còn được ... ngủ .
·         Ngày xưa, tưởng thi xong là hết. Lớn lên mới biết , sau thi còn có thi lại...
·         Ngày xưa, tưởng chỉ gặp được thầy cô ở trường. Lớn lên mới biết, còn có thể gặp ở nhà thầy cô nhiều lần...
·         Ngày xưa , tưởng điểm 10 mới là giỏi. Lớn lên mới biết, chỉ 5 thôi đã quý lắm rồi...
·         Ngày xưa, tưởng càng học càng giỏi. Lớn lên mới biết, càng học càng thay mình ngu...
·         Ngày xưa,thấy cuộc sồng đơn giản.Giờ mới thấy cuộc sống phức tạp đến chừng nào.
·         Ngày xưa cứ tưởng thế giới chỉ có 2 màu đen và trắng, con người chỉ có đúng hoặc sai.Lớn rồi mới biết còn màu xám nửa.Thế giới chả có gì là đúng là sai hoàn toàn cả .
·         Ngày xưa cứ tưởng làm người lớn là sướng, lớn rồi mới thấy tiếc nuối thời trẻ.
·         Ngày xưa cứ tưởng ba mẹ la rầy đánh đòn là ghét mình, bây giờlàm cha làm mẹ rồi mới thấy đánh con đau một lòng ta đau mười.
·         Ngày xưa tưởng rằng yêu một người là sống vì người đó,giờ mới biết yêu một người là fải biết tự yêu lấy mình
·         Ngày xưa tưởng sự sống và cái chết ở cách xa nhau lắm,giờ mới biết nó chỉ cách nhau một lằn chỉ mong manh
·         Ngày xưa tưởng nói dối là xấu ,giờ mới biết lời nói dối đôi khi cũng giúp ích rất nhiều
·         Ngày xưa tưởng rằng trung thực là điều tốt,giờ mới biết sống trung thực với mình thôi cũng là điều khó biết bao
·         Ngày xưa tưởng rằng những gì đến rồi sẽ đi,giờ mới biết niềm vui đến thi qua mau,còn nỗi buồn đến thì cứ ở bên ta mãi Ngày xưa cứ tưởng rằng sau tình yêu sẽ là hôn nhân,giờ mới biết có những cuộc hôn nhân không cần tình yêu
·         Ngày xưa tưởng rằng tiền bạc -tình yêu và sức khỏe là quan trọng ,giờ mới biết rằng sức khỏe-tiền bạc và tình yêu mới là quan trọng
·         Ngày xưa tưởng hạnh phúc là điều gì đó xa xôi lắm,giờ mới biết hạnh phúc chỉ đơn giản là những thứ bình dị xung quanh ta,có chăng là mình đã không nhận thấy
·         Ngày xưa tưởng nói quên là có thể quên được,giờ mới biết có những chuyện càng muốn quên thì nó lại càng ở mãi trong lòng
·         Ngày xưa cứ mơ ước lớn lên sẽ trở thành người này người kia,giờ mới biết được trở thành chính mình mới là hạnh phúc nhất!
·         Ngày xưa tưởng nhửng thứ mất đi rồi có thể tìm lại dược nhưng giờ đã biết có những thứ đã mất là mãi ko tìm được.
·         Ngày xưa cứ ngỡ mọi chuyện cứ cố gắng là sẽ đạt được nhưng giờ đã biết có chuyện dù đã cố hết mình nhưng cũng ko đạt được kết quả
·         Ngày xưa cứ tưởng sẽ hối tiếc những chuyện đã làm giờ thì những chuyện chưa làm còn cảm thấy hối tiêc' hơn...
·         Ngày xưa cứ tưỡng dù mình lớn mình cũng sẽ "thích thì làm" giống như ngày còn thơ giờ thì đã biết có những dù muốn nhưng cũng ko thể làm.
(N.Anh)
Nếu  hay xin để lại comment


Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

ĐƯA TIỄN NGƯỜI RA ĐI

Vừa đi đưa tiễn một người anh, người bạn về cõi vĩnh hằng. Trước nhiều bi lụy, đau thương của cuộc sống chưa hề nhỏ lệ sao trong cuộc tiền đưa này không thể cầm lòng.
Cuộc đời là gì, phải chăng là hành trình đi tìm cái chết. Giàu sang, nghèo hèn; sung sướng, khổ đau, công danh, tiền tài; yêu ghét, giận hờn ... cuối cùng còn lại gì sau những nắm đất đang lấp dần lên tấm thân bất động, sau những tiếng gào thét đau thương, sau những hàng nước mắt tiếc thương. Phải chăng chỉ còn lại chữ TÌNH, cái đích vô hạn của hành trình cuộc đời hữu hạn.
Anh đã đạt đến được cái đích ấy, như Kinh thánh nói: " Khi con sinh ra mọi người đều cười chỉ mình con khóc, con hãy sống sao cho khi con nằm xuống mọi người đều khóc chỉ riêng mình con cười".
Cầu cho linh hồn anh được an nghỉ!

(N.Anh)

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

VỀ ĐẠO " TAM CƯƠNG, NGŨ THƯỜNG" & " TAM TÒNG TỨ ĐỨC" CỦA NHO GIÁO

Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức... để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.
Tam cương và ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo.
Tam tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo.
Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được an bình.

Tam cương: tam là ba, cương là giềng mối. Tam cương là ba mối quan hệ: Quân Thần (vua tôi), Phụ Tử (cha con), Phu Phụ (vợ chồng).

1. Quân thần
- Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.
- Nghĩa là: dù vua có bảo thần chết đi nữa thì thần cũng phải tuân lệnh, nếu ko tuân lệnh thì xem như không trung với vua.

2. Phụ tử
- Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu.
- Nghĩa là: cha bảo con chết, con không chết thì con không có hiếu.

3. Phu phụ
- Phu xướng phụ tùy.
- Nghĩa là: chồng nói ra, vợ phải theo.

Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có. Ngũ thường là năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

1. Nhân
- Lòng yêu thương đối với vạn vật.

2. Nghĩa
- Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải.

3. Lễ
- Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.

4. Trí
- Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.

5. Tín
- Phải giữ đúng lời hứa.

***********************************
Tam tòng: tam là ba, tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo

1. Tại gia tòng phụ
- Người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha.

2. Xuất giá tòng phu
- Lúc lấy chồng phải theo chồng.

3. Phu tử tòng tử
- Nếu chồng qua đời phải theo con.

Tứ đức: tứ là bốn, đức là tính tốt. Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có.

1. Công
- Khéo léo trong việc làm.

2. Dung
- Hòa nhã trong sắc diện.

3. Ngôn
- Mềm mại trong lời nói.

4. Hạnh
- Nhu mì trong tính nết.

Trong xã hội Việt Nam hiện tại, thiết nghĩ Đạo " Tam cương, ngũ thường" và " Tam tòng tứ đức" vẫn gần như còn nguyên giá trị, ngoại trừ 1 vài điểm không còn phù hợp. Hầu hết, đó vẫn là những chuẩn mực đạo đức cần có ở mỗi con người, tôi cho là như vậy.
                                                                                                                                                   (N.Anh)